Cây Mật Gấu - Cây Lá Đắng

Cây Mật Gấu - Cây Lá Đắng

120.000₫

- +
Mua hàng

Cây lá đắng - Cây mật gấu

Tên Latin là Vernonia amygdalina Del., thuộc họ Cúc - Asteraceae. Ngoài ra, nó còn có nhiều tên khác như khổ diệp thụ, cúc ban cưu biển đào, cúc ban cưu.

Cây lá đắng thuộc loài cây bụi nhỏ mọc thẳng đứng, sống nhiều năm, có thể cao đến 2 - 3m, đường kính thân 2 - 4cm, phần gốc phân nhánh, trên nhánh thông thường không chia thêm cành con, cành khi còn non có bì khổng rõ rệt, phủ một lớp lông mềm mịn ngắn màu trắng, về sau lớp lông này dần rụng hết.

Cây mật gấu

Lá có cuống, cuống lá dài khoảng 1 - 3,5cm, phiến lá hình trái xoan ngược hoặc hình trứng ngược rộng bản, mép lá dạng răng cưa thưa, có khi gần như liền mạch, lá dài 4,5 - 12cm, rộng 3 - 8cm, phần gốc lá thuôn dần lại như hình nêm, đầu lá nhọn tù, tù hoặc nhọn sắc, mặt trên của lá có lông ngắn mịn như phấn.

Khi lá già thì bề mặt lá nhẵn bóng, mặt bụng lá không có lông hoặc có lông thưa dọc trên gân bụng lá.

Cụm hoa hình rổ, đường kính 3 - 5mm, tụ thành cụm nơi đầu cành, hoa màu trắng cho đến trắng phấn nhạt, đôi khi có cả màu tím hoặc phớt tím, hồng phớt hoặc hồng phấn, cuống hoa mảnh, dài khoảng 3 - 5mm, có lông mềm ngắn màu trắng.

Ở Việt Nam, cây đã được trồng trong nhân dân, chủ yếu bằng cách giâm cành. Cây này vốn có nguồn gốc từ châu Phi di thực đến nước ta qua các nước châu Á, có lẽ vì thế mà nó còn có tên là Nam Phi diệp.

Theo các tài liệu thì lá và thân của cây này đều dùng được, nhưng trên thực tế người dân ta dùng lá là chủ yếu.

Thành phần hóa học Cây lá đắng -Cây mật gấu

Về thành phần các chất có trong lá cây lá đắng, theo nhiều tài liệu, chúng tôi được biết trong lá của loài cây này có chứa các chất như sesquiterpene lactones, vernolide, vernodalol, Vernolide A, trong đó hàm lượng chất chống oxy hóa (Antioxidant) rất cao.

 

Tác dụng cây Mật gấu

 

Tài liệu của người Trung Quốc thì cho rằng lá cây này có vị đắng, tính hàn, có công dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng chỉ thống, trừ phong làm cho hết ngứa.

Thường được dùng hỗ trợ điều trị một số bệnh như: viêm phổi, cổ họng sưng đau, cổ họng khô ngứa, viêm gan, viêm dạ dày tá tràng, xuất huyết dạ dày, bệnh trĩ sưng đau, đau thần kinh do phong thấp, đau sưng do trật đả, lưng xương đau buốt, đau mắt đỏ, cao huyết áp, đái tháo đường, mỡ máu cao.

Người dân nhiều nước ở Đông Nam Á còn sử dụng thường xuyên lá cây này để trị liệu nhiều loại ung thư như: ung thư vú, ung thư hầu họng, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư phổi, ung thư kết tràng.

Tuy nhiên, những thông tin này chỉ có giá trị tham khảo, vì chưa có bằng chứng khoa học xác thực.

Cách dùng cây mật gấu

Cách dùng chung là sắc uống dưới dạng trà, dùng khô hoặc tươi, hoặc làm thuốc tán hoặc ép lấy nước dịch trộn với mật uống hoặc giã nát vắt lấy nước ngậm súc miệng nuốt từ từ.

Liều dùng mỗi ngày chỉ khoảng 3 - 5 lá tươi hoặc khô, vì liều cao hơn sẽ rất đắng khó uống được, trừ khi tán bột làm viên.

Lưu ý : Tùy thuộc vào mỗi người mà tác dụng của nó cũng khác nhau

Đánh giá